Tai nạn giao thông là rủi ro phổ biến tại Việt Nam. Theo Bộ luật Dân sự 2015, người gây tai nạn phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại, bao gồm cả thiệt hại tài sản, sức khoẻ, tính mạng và tổn thất tinh thần. Hiểu rõ quy định giúp các bên giải quyết hài hoà, đúng pháp luật.
Nguyên tắc xác định trách nhiệm
Người điều khiển phương tiện giao thông gây thiệt hại phải bồi thường, không cần chứng minh có lỗi (Điều 601 BLDS - trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ). Tuy nhiên có thể được miễn nếu chứng minh: thiệt hại do người bị thiệt hại cố ý gây ra (tự lao vào xe); do sự kiện bất khả kháng; do người bị hại không tuân thủ pháp luật giao thông và lỗi 100% thuộc về họ.
Các khoản phải bồi thường
Thiệt hại tài sản: sửa chữa xe, các tài sản khác bị hư hỏng, chi phí thuê phương tiện thay thế trong thời gian sửa. Thiệt hại sức khoẻ: chi phí cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng; thu nhập bị mất; chi phí người chăm sóc. Thiệt hại tính mạng: chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho người mà người chết có nghĩa vụ nuôi dưỡng; tổn thất tinh thần (tối đa 100 lần lương cơ sở).
Mức bồi thường tổn thất tinh thần
Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm tối đa 50 lần lương cơ sở. Do tính mạng bị xâm phạm: bồi thường cho thân nhân nạn nhân (vợ chồng, cha mẹ, con) tối đa 100 lần lương cơ sở mỗi người, nhưng tổng cho mọi thân nhân không quá 100 lần lương cơ sở. Mức cụ thể tuỳ tình tiết vụ việc do toà án quyết định.
Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới chi trả thay người gây tai nạn trong phạm vi mức trách nhiệm: 150 triệu đồng/người về sức khoẻ, tính mạng; 50 triệu đồng/vụ về tài sản. Phần vượt quá hoặc không thuộc phạm vi bảo hiểm, người gây tai nạn phải tự chịu. Bảo hiểm tự nguyện (toàn diện) có thể mở rộng phạm vi và mức bảo hiểm.
Bài viết mang tính tham khảo, vui lòng liên hệ luật sư để được tư vấn chính xác theo trường hợp cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Tai nạn do hai bên cùng có lỗi xử lý thế nào?
Khi cả hai bên có lỗi, trách nhiệm bồi thường được phân chia theo tỷ lệ lỗi. Ví dụ: A vượt đèn đỏ, B chạy quá tốc độ, lỗi 70% thuộc A, 30% thuộc B. Tổng thiệt hại 100 triệu, A chịu 70 triệu, B chịu 30 triệu. Cơ quan công an, toà án sẽ căn cứ vào kết luận điều tra, sơ đồ hiện trường, lời khai để xác định tỷ lệ lỗi.
Người gây tai nạn không có tiền bồi thường phải làm sao?
Có nhiều giải pháp: yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả phần thuộc trách nhiệm dân sự bắt buộc; thoả thuận trả góp với bên bị thiệt hại; yêu cầu toà án phán quyết, sau đó cơ quan thi hành án sẽ kê biên tài sản (nhà, xe, lương) để cưỡng chế. Trường hợp người gây tai nạn không có tài sản, nạn nhân có thể yêu cầu Quỹ bảo trợ nạn nhân tai nạn giao thông hỗ trợ một phần (theo Nghị định 67/2023).
Lái xe say rượu gây tai nạn bị xử lý thế nào?
Lái xe say rượu gây tai nạn bị xử lý nặng hơn nhiều: ngoài trách nhiệm bồi thường dân sự, còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 BLHS với khung hình phạt 1-15 năm tù tuỳ hậu quả. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự không chi trả khi lái xe có nồng độ cồn trong máu/khí thở vượt quy định - người gây tai nạn phải tự bồi thường hoàn toàn. Đây là chế tài rất nghiêm khắc nhằm răn đe.
Người đi bộ vi phạm bị xe đâm có được bồi thường không?
Có, nhưng giảm. Theo nguyên tắc trách nhiệm với nguồn nguy hiểm cao độ (xe cơ giới), người điều khiển xe vẫn phải bồi thường ngay cả khi người đi bộ có lỗi (sang đường sai quy định, đi vào đường cao tốc). Tuy nhiên mức bồi thường được giảm tương ứng với mức độ lỗi của người đi bộ. Trường hợp người đi bộ cố ý lao vào xe để tự sát thì người lái xe được miễn trách nhiệm.